Lịch sử phát triển

Lịch sử phát triển

 

Cuộc cách mạng  dân tộc dân chủ nhân dân giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước kết thúc bằng Đại thắng mùa xuân năm 1975. Cách mạng Việt Nam từ hai nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa sang một nhiệm vụ chiến lược là cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước.  Ngày 18/12/1980, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VI, kỳ họp thứ  7 đã ban hành bản Hiến pháp mới. Đây là bản Hiến pháp quy định chế độ chính trị, kinh tế, bộ máy nhà nước, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân trong giai đoạn cách mạng mới của một nước độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, một nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á. Trên cơ sở Hiến pháp, Nhà nước ta đã không ngừng được củng cố, kiện toàn bộ máy để quản lý đất nước. Các cơ quan Nhà nước từ Trung  ương đến địa phương dần được kiện toàn. Ngày 22/11/1981, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định số 143-HĐBT quy định chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tư pháp. Theo đó, Bộ Tư pháp chính thức được thành lập và hệ thống tổ chức của ngành Tư pháp từ Trung ương đến cơ sở được xây dựng, củng cố và kiện toàn.

Trong bối cảnh lịch sử đó, ngày 08/3/1983 Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Bắc ban hành Quyết định số 113/QĐ-UB thành lập

 Sở Tư pháp tỉnh Hà Bắc, tiền thân của Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang ngày nay.

Trải qua 30 năm, ngành Tư pháp Bắc Giang có những nét thăng trầm nhất định, song được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và sự phối hợp, cộng tác của các cấp, các ngành trong tỉnh, ngành Tư pháp Bắc Giang đã không ngừng được củng cố, kiện toàn và phát triển. Các thế hệ cán bộ, công chức, viên chức luôn tận tụy, sáng tạo vượt qua mọi thử thách, khó khăn hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao trong các thời kỳ và có những đóng góp nhất định vào thắng lợi chung của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thời kỳ 1983 đến 1993

Theo Quyết định số 113/QĐ-UB ngày 08/3/1983 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Bắc, Sở Tư pháp ban đầu có 17 biên chế, nhiệm vụ chủ yếu là: Quản lý thống nhất việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) của các cơ quan tỉnh, lập chương trình ban hành văn bản QPPL hàng năm của Uỷ ban nhân dân; Hướng dẫn các cơ quan về mặt nghiệp vụ công tác dự thảo văn bản pháp quy, thẩm tra văn bản trước khi Uỷ ban nhân dân ban hành hoặc trình Hội đồng nhân dân  thông qua; Thẩm tra tính hợp pháp của các văn bản pháp quy do các cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành. Quản lý về mặt tổ chức Tòa án nhân dân cấp huyện; Quản lý các công tác tư pháp khác tại địa phương bao gồm: công chứng, giám định tư pháp, quản lý đăng ký hộ tịch, chấp hành án, hoạt động luật sư, hội thẩm nhân dân…; Xây dựng kế hoạch và thực hiện công tác tuyên truyền pháp luật ở địa phương; Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thuộc hệ thống ngành Tư pháp theo sự phân cấp của Bộ Tư pháp;  Tổng kết tình hình ban hành văn bản pháp quy, tình hình thi hành pháp luật tại địa phương; Tư vấn cho Uỷ ban nhân dân tỉnh về pháp lý…

Mặc dù chức năng, nhiệm vụ được giao hết sức nặng nề, biên chế cán bộ ít- ngày mới thành lập Sở chỉ có 06 người, trình độ pháp lý, chuyên môn còn hạn chế nhưng với lòng quyết tâm của tập thể lãnh đạo và sự cố gắng nỗ lực của cán bộ, công chức, viên chức trong Sở nên tất cả các nhiệm vụ đều được triển khai và tổ chức thực hiện có hiệu quả. Các nhiệm vụ trọng tâm như: xây dựng, kiểm tra văn bản, phổ biến giáo dục pháp luật, quản lý Tòa án nhân dân cấp huyện về mặt tổ chức, quản lý và hướng dẫn hoạt động tư pháp cơ sở …được triển khai thực hiện đạt hiệu quả tốt.

Về công tác xây dựng, kiểm tra văn bản: hàng năm Sở, đã dự thảo hàng chục văn bản pháp quy trình Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành. Tổ chức tốt việc lấy ý kiến nhân dân vào các dự án luật, pháp lệnh. Các đợt Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tổ chức lấy ý kiến nhân dân vào Luật Đất đai, Bộ Luật hình sự, Bộ Luật tố tụng hình sự, Hiến pháp năm 1992 Sở Tư pháp được giao nhiệm vụ chính tổng hợp ý kiến của nhân dân để Thường trực

 Hội đồng nhân dân báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội. Với vai trò là cơ quan thường trực, Sở Tư pháp đã giúp Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh tổ chức để nhân dân tham gia vào các đợt sinh hoạt pháp lý, thực hiện quyền xây dựng pháp luật của mình. Bên cạnh đó, hàng năm Sở cũng đã tiến hành nhiều đợt kiểm tra rà soát, văn bản ở cơ sở. Qua các đợt kiểm tra, rà soát đã giúp cho cơ sở nhận thức  tốt hơn về tầm quan trọng của công tác văn bản phục vụ việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật ở địa phương.

Công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật trong thời kỳ này được Sở xác định là nhiệm vụ chính, trọng tâm. Các chuyên viên của Sở luôn là những báo cáo viên pháp luật có tín nhiệm cao trong và ngoài ngành. Hầu hết các văn bản pháp luật của nhà nước mới ban hành đều được triển khai tuyên truyền đến các tầng lớp nhân dân. Nhiều đợt tuyên truyền đã dấy lên thành đợt sinh hoạt pháp lý sôi nổi như các đợt tuyên truyền Bộ luật Hình sự 1985, Luật đất đai 1987, Hiến pháp 1992...Công tác phổ biến tuyên truyền pháp luật có tác dụng to lớn đối với nhận thức pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân trong tỉnh.

Công tác quản lý hoạt động tư pháp khác được triển khai một các tích cực. Năm 1987, ngành Tư pháp nhận bàn giao công tác quản lý và đăng ký hộ tịch từ ngành công an chuyển sang.

 Ngay từ những ngày đầu tiếp nhận, lãnh đạo Sở đã thường xuyên cử cán bộ về cơ sở công tác nhằm hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ Tư pháp xã tiếp nhận và thực hiện tốt nhiệm vụ mới mẻ này; đồng thời thực hiện tốt công tác hòa giải ở cơ sở. Những năm 80 của thế kỷ trước, nhiệm vụ chính của tư pháp cấp xã là hòa giải và quản lý, đăng ký hộ tịch, với sự quan tâm sâu sắc của Sở trong việc hướng dẫn, chỉ đạo những nhiệm vụ này ở cơ sở đã sớm đi vào nề nếp, hoạt động có hiệu quả,  vai trò của tư pháp cơ sở dần dần rõ nét.

Công tác quản lý Tòa án nhân dân cấp huyện về mặt tổ chức được lãnh đạo Sở hết sức quan tâm. Xác định đây là nhiệm vụ có ý nghĩa to lớn nhằm nâng cao chất lượng xét xử của cơ quan Tòa án, Sở đã chú trọng củng cố kiện toàn về mặt tổ chức ngay từ khi tiếp nhận bàn giao từ Tòa án nhân dân tỉnh chuyển sang. Lãnh đạo Sở thường xuyên làm việc với cấp ủy và chính quyền địa phương trong việc bố trí cán bộ cũng như đào đạo cán bộ. Chỉ trong vòng 10 năm,

 Sở đã tổ chức 4 lớp sơ cấp pháp lý, phối hợp với trường Đại học Luật Hà Nội mở 02 lớp trung cấp, 01 lớp đại học Luật tại chức và cử hàng chục lượt cán bộ tham gia các khóa luân huấn, chuyên tu đại học Luật để đào tạo cán bộ ngành Tư pháp nói chung, Tòa án nhân dân cấp huyện nói riêng. Khi mới tiếp nhận, đội ngũ cán bộ Tòa án chủ yếu là quân nhân chuyển ngành, chỉ có một số ít có trình độ cao đẳng, trung cấp  Tòa án, nhiều thẩm phán chưa qua đào tạo, thậm chí có người chưa có trình độ sơ cấp pháp lý nhưng đến năm 1993 hầu hết các chức danh: thẩm phán, thư ký Tòa án có trình độ trung cấp Luật, nhiều người có trình độ đại học Luật. Cùng với việc quan tâm đến tổ chức cán bộ, Sở cũng quan tâm đến xây dựng cơ sở vật chất. Thời kỳ đầu, cơ sở vật chất của các Tòa án huyện, thị xã hết sức nghèo nàn, trụ sở cũng như phương tiện làm việc hết sức thiếu thốn. Bằng sự năng động Sở Tư pháp đã tranh thủ các cấp chính quyền, Bộ Tư pháp không ngừng  tăng cường cơ sở vật chất cho Tòa án cấp huyện. Đến năm 1993, phương tiện làm việc cơ bản được cải thiện, trụ sở làm việc tốt hơn rất nhiều, một số Tòa đã có trụ sở kiên cố, khang trang.

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, lãnh đạo Sở đã quan tâm sâu sắc đến việc kiện toàn ngành, xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên sâu. Khi mới thành lập, Sở chỉ có 06 cán bộ nhưng chỉ sau 01 năm đã thu hút trên 10 sinh viên tốt nghiệp đại học Luật ở trong nước và ở nước ngoài về làm việc, là một trong những Sở có tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học cao so với các sở khác trong tỉnh.

          Hoạt động của ngành Tư pháp trong thời kỳ 1983-1993 đã có những nét chấm son nhất định. Trong thời kỳ này, hoạt động của các cơ quan nhà nước nói chung, ngành Tư pháp nói riêng phụ thuộc vào sự điều chỉnh của Hiến pháp 1980. Một Hiến pháp ban hành cho thời kỳ bao cấp, kế hoạch hóa, chưa đổi mới. Bởi vậy, vai trò của ngành

 Tư pháp đối với đời sống xã hội còn mờ nhạt. Nhiều Sở Tư pháp trong cả nước đã giải thể. Sở Tư pháp tỉnh Hà Bắc lúc đó (nay là Bắc Giang) cũng trong hoàn cảnh như vậy. Các phòng, ban của Sở đã giải thể và làm việc theo chế độ chuyên viên. Nhưng với tinh thần quyết tâm cao và lòng yêu ngành, yêu nghề son sắt, các thế hệ cán bộ, công chức, viên chức của ngành đã nỗ lực hết mình hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Chính bằng những thành tích đã đạt được và những thành quả của công tác tư pháp mà ngành tạo ra đã tác động mạnh đến  nhận thức của các cấp ủy và chính quyền địa phương rằng ngành Tư pháp không thể thiếu trong bộ máy chính quyền nhà nước ở địa phương. Do vậy Sở Tư pháp tỉnh Hà Bắc (nay là Bắc Giang) không những không giải thể mà còn được củng cố, tăng cường và phát triển.

Thời kỳ 1993- đến nay

Nghị quyết Đại  hội đại biểu Đảng toàn quốc (Khóa VI) năm 1986 như một làn gió mới thổi bung “tấm chăn” quan liêu bao cấp, duy ý trí, trì trệ để đưa đất nước ta thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu và tiến lên theo kịp các nước khác trong khu vực và trên thế giới. Để thực hiện đường lối đổi mới của Đảng mà Nghị quyết Đại hội VI vạch ra, việc sửa đổi Hiến pháp là rất cần thiết. Ngày 15/4/1992, Quốc hội khoá VIII kỳ họp thứ 11 đã thông qua  toàn văn Hiến pháp 1992. Đây là bản Hiến pháp phục vụ cho công cuộc đổi mới đất nước. Do vậy, các cơ quan trong bộ máy Nhà nước không ngừng được hoàn thiện phù hợp với quy định của Hiến pháp. Ngày 04/6/1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 38/CP Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp, đồng thời xác định rõ hệ thống ngành Tư pháp từ trung ương đến địa phương có 4 cấp là Bộ Tư pháp,  Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, Ban Tư pháp. Theo đó, Ban Tư pháp được củng cố kiện toàn, Phòng Tư pháp được thành lập. Các phòng, đơn vị thuộc Sở được tái thành lập, có nhiều phòng được thành lập mới. Nhiều nhiệm vụ mới được giao như: quản lý Thi hành án dân sự, trợ giúp pháp lý, quản lý các tổ chức giám định tư pháp, luật sư, cấp Phiếu lý lịch tư pháp, dịch vụ bán đấu giá tài sản, theo dõi thi hành pháp luật, quản lý tổ chức pháp chế ngành, quản lý công tác bồi thường nhà nước, quản lý nhà nước về hoạt động giao dịch bảo đảm…Mặc  dù nhiệm vụ càng ngày càng được tăng cường nhưng với quyết tâm cao và nỗ lực phấn đấu của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong ngành, hầu hết các nhiệm vụ đều được hoàn thành, có những nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc được Bộ Tư pháp, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ghi nhận.

Công tác tổ chức cán bộ và xây dựng ngành

Ngay sau khi Nghị định số 38/CP  của Chính phủ được ban hành, khẳng định hệ thống ngành Tư pháp từ trung ương đến địa phương có 4 cấp, Sở Tư pháp đã xây dựng Đề án trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt để củng cố, kiện toàn ngành Tư pháp từ tỉnh đến cơ sở. Sở Tư pháp tiếp nhận cơ quan Thi hành án dân sự từ Tòa án nhân dân tỉnh chuyển sang thành một phòng của Sở và thành lập thêm 08 phòng, đơn vị khác. Đến nay, mặc dù các cơ quan Thi hành án dân sự đã tách khỏi Sở thành lập theo hệ thống ngành dọc, song tổng số phòng, đơn vị thuộc Sở vẫn tăng lên là 11,  với tổng biên chế 72 công chức, viên chức. Xác định công tác tổ chức cán bộ có tính quyết định thắng lợi hoàn thành nhiệm vụ chính trị của ngành, do vậy lãnh đạo Sở  rất coi trọng việc củng cố kiện toàn ngành. Năm 2009, Sở đã tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Đề án nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Tư pháp- Hộ tịch xã, phường, thị trấn trong đó xác định mỗi đơn vị cấp xã có 02 cán bộ Tư pháp - Hộ tịch,  các nơi không phải diện khó khăn về tuyển dụng thì cán bộ Tư pháp - Hộ tịch phải đạt chuẩn, trình độ nghiệp vụ từ trung cấp Luật trở lên. Thực hiện Đề án này, các huyện, thành phố đã tích cực tuyển dụng và bố trí cán bộ đủ để đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ. Đến nay, đa số các xã, phường, thị trấn có 02 cán bộ, công chức Tư pháp - Hộ tịch, nhiều xã, phường cán bộ, công chức có trình độ đại học, thậm chí có nơi có cả cán bộ, công chức có trình độ thạc sĩ. Để nâng cao năng lực hoạt động của các Phòng Tư pháp, từ năm 2003 đến nay,  hàng năm tập thể lãnh đạo Sở đã tích cực làm việc với Thường trực Huyện ủy, Thành ủy và Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố về công tác tư pháp để tháo gỡ khó khăn và củng cố kiện toàn Phòng Tư pháp. Hiện tại, hầu hết các Phòng Tư pháp đều được kiện toàn, có từ 03 đến 05 biên chế, có Trưởng phòng, Phó trưởng phòng. Đối với tổ chức cán bộ thuộc Sở cũng không ngừng được tăng cường, các phòng, đơn vị có từ 03 biên chế trở lên, đa số có đủ cấp trưởng, cấp phó. Trình độ chuyên môn, trình độ chính trị nâng lên rõ rệt. Phần lớn  công chức, viên chức có trình độ cử nhân Luật được đào tạo chính quy, có 11 người có trình độ thạc sĩ và đang theo học thạc sỹ, có 08 người có trình độ cử nhân lý luận chính trị hoặc cao cấp lý luận chính trị. Nhiều cán bộ, công chức của ngành đã trưởng thành là lãnh đạo của ngành và các ngành khác trong tỉnh.

Trong những năm được giao quản lý Tòa án cấp huyện về mặt tổ chức và quản lý công tác thi hành án dân sự, Sở đã coi trọng việc tuyển dụng, đào tạo, sắp xếp, bố trí cán bộ của các cơ quan này.

Đối với Tòa án nhân dân cấp huyện trước khi bàn giao lại cho Tòa án nhân dân tỉnh quản lý, năm 2002 Sở đã hoàn thành Đề án quy hoạch đội ngũ lãnh đạo quản lý và đội ngũ thẩm phán. Tăng cường đào tạo, đặc biệt là việc chuẩn hóa đội ngũ thẩm phán. Do vậy khi bàn giao 100% thẩm phán và thư ký có trình độ cử nhân luật, đội ngũ cán bộ Tòa án cơ bản có đủ năng lực hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Đối với các cơ quan thi hành án dân sự cũng được Sở hết sức quan tâm. Trước khi tách ra khỏi sự quản lý của Sở, các cơ quan này đã được củng cố kiện toàn cơ bản. Thi hành án dân sự tỉnh và 10 đơn vị Thi hành cấp huyện, thành phố đã được kiện toàn về mặt tổ chức, hầu hết các đơn vị có đủ lãnh đạo cả cấp trưởng và cấp phó, đội ngũ chấp hành viên không ngừng được bổ sung, tăng cường ở cả hai cấp tỉnh và huyện. Bên cạnh tăng cường về số lượng, chất lượng chuyên môn nghiệp vụ, Sở còn quan tâm đến việc giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ này. Chính vì vậy, trong những năm Sở quản lý, các cơ quan thi hành án dân sự đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, nhiều năm liền là lá cờ đầu của ngành Tư pháp.

Công tác xây dựng và kiểm tra văn bản

Phát huy truyền thống của thời kỳ trước đây, công tác xây  dựng và kiểm tra văn bản trong thời kỳ này đã có những bước tiến mới. Đây là một trong những nhiệm vụ khó khăn của ngành và cũng là nhiệm vụ trọng tâm của ngành ở mọi thời kỳ. Do vậy, lãnh đạo Sở đã hết sức quan tâm trong việc lãnh đạo, chỉ đạo. Công tác xây dựng văn bản được triển khai thực hiện tốt ở cả 03 khâu: soạn thảo, tham gia ý kiến và thẩm định. Từ khi có Luật ban hành văn bản QPPL (năm 1998) công tác này ngày càng trở thành quan trọng đối với ngành. Năm nào cũng được xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Để công tác xây dựng văn  bản QPPL ở địa phương đi vào nề nếp, tháng 12/2001 Sở Tư pháp đã tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quy định về Trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL của Uỷ ban nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Đây là văn bản QPPL đầu tiên của Uỷ ban nhân dân tỉnh về công tác này, mặc dù khi đó Luật ban hành văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân chưa được Quốc hội thông qua. Sự ra đời Quy định nêu trên là cơ sở pháp lý để công tác xây dựng văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh được triển khai và đi vào  nề nếp. Để thống nhất nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác này, ngày 14/7/2009, Sở đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh phối hợp với Bộ Tư pháp mở Hội thảo khoa học về xây dựng, kiểm tra văn bản tại tỉnh Bắc Giang. Đây là cuộc Hội thảo có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm nâng cao nhận thức về công tác xây dựng và kiểm tra văn bản ở địa phương. Sau cuộc Hội thảo, Sở đã tham  mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành và trình Hội đồng nhân dân ban hành 07 văn bản QPPL liên quan đến xây dựng và kiểm tra văn bản. Đến nay, công tác này đã chuyển biến một cách rõ nét. Hầu hết văn bản QPPL ở cấp huyện, cấp tỉnh được ban hành đúng trình tự thủ tục. Văn bản có sai sót giảm đáng kể. 100% văn bản QPPL trước khi trình ra Uỷ ban nhân dân ban hành hoặc Uỷ ban nhân dân trình Hội đồng nhân dân ban hành đều được ngành Tư pháp thẩm định. Hàng năm, Sở đã tiến hành thẩm định trên 60 dự thảo văn bản QPPL của tỉnh,  tham gia ý kiến trên 100 dự án luật, nghị định của Quốc hội, Chính phủ và dự thảo văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh. Chất lượng thẩm định và ý kiến đóng góp của ngành Tư pháp đối với dự thảo văn bản QPPL ngày càng được nâng cao, gây được tín nhiệm của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và của các ngành khác trong tỉnh.

Bên cạnh công tác xây dựng văn bản, công tác kiểm tra văn bản cũng được coi trọng. 

 Qua các đợt kiểm tra đã kịp thời phát hiện những văn bản có sai sót để kiến nghị xử lý nhằm làm cho hệ thống văn bản QPPL ban hành ra đảm bảo chất lượng, phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành. Năm 2010, Sở đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh tiến hành đợt tổng rà soát văn bản QPPL do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp ban hành từ khi tách tỉnh Hà Bắc thành Bắc Giang, Bắc Ninh (1997) đến   31/12/2009. Qua đợt tổng rà soát, ngành Tư pháp đã tham mưu cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân hệ thống hóa những văn bản còn hiệu lực đồng thời xử lý bãi bỏ, hủy bỏ những văn bản sai, trái pháp luật hoặc không còn phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành.

Nhìn chung công tác xây dựng và kiểm tra văn bản đã đóng góp thành tựu không nhỏ vào sự phát triển của ngành, góp phần nâng cao vị thế của ngành ở địa phương.

Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Đây là một nhiệm vụ mang tính “truyền thống” và cũng là nhiệm vụ trọng tâm hàng năm của ngành Tư pháp. Để phục vụ nhiệm vụ chính trị, góp phần từng bước nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật của cán bộ, nhân dân trong tỉnh, Sở Tư pháp đã thường xuyên chủ động phối hợp với chính quyền các cấp, các cơ quan,  tổ chức đoàn thể xã hội để mở các đợt tuyên truyền sâu rộng các đạo luật của Quốc hội, các văn bản QPPL của các cơ quan Trung ương và Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành. Hầu hết các văn bản QPPL mới ban hành đều được truyên truyền sâu rộng. Đặc biệt, những văn bản pháp luật có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội, đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đều được phổ biến, tuyên truyền thường xuyên. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ngày càng phong phú về  nội dung, đa dạng về hình thức.

Từ năm 1998 trở lại đây, với vai trò là cơ quan thường trực của Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật, ngành Tư pháp đã nêu cao tinh thần trách nhiệm tham mưu giúp Hội đồng triển khai có hiệu quả công tác phổ biến giáo dục pháp luật ở địa phương. Việc xây dựng mạng lưới báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật được Sở Tư pháp hết sức quan tâm. Đến nay, với đội ngũ 82 Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, 418 Báo cáo viên pháp luật cấp huyện và 1.068 Tuyên truyền viên pháp luật ở cơ sở có năng lực, trình độ và có tinh thần trách nhiệm, chất lượng công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật đã được nâng cao và đi vào chiều sâu, từng bước đáp ứng yêu cầu hiện nay.

Để thực hiện chủ trương tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên trong nhà trường, Sở Tư pháp đã phối hợp chặt chẽ với Sở Giáo dục - Đào tạo thực hiện kế hoạch đưa pháp luật vào trường học: tổ chức tập huấn bồi dưỡng kiến thức pháp luật, tham gia bổ sung giáo trình, nâng cao trình độ giảng dạy cho đội ngũ giáo viên dạy môn Giáo dục công dân.

Cùng với các công việc trên, thực hiện Đề án xây dựng tủ sách pháp luật ở xã, phường, thị trấn, trong những năm qua, công tác xây dựng, quản lý, sử dụng tủ sách pháp luật đã được ngành Tư pháp quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Đến nay, 100% xã, phường, thị trấn trong tỉnh đã được trang bị tủ sách pháp luật. Hàng năm các tủ sách đều được bổ sung  kịp thời các đầu sách mới, từng bước đáp ứng yêu cầu tìm hiểu pháp luật của nhân dân.

Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật qua các phương tiện thông tin đại chúng được quan tâm, Sở Tư pháp đã phối hợp với Đài PT - TH tỉnh, Báo Bắc Giang xây dựng chuyên trang, chuyên mục tìm hiểu pháp luật, pháp luật với đời sống, giải đáp pháp luật, trợ giúp pháp lý... Cùng với các chuyên trang, chuyên mục nêu trên, các hình thức khác như: Câu lạc bộ phòng chống tội phạm, Bản tin Tư pháp, hệ thống truyền thanh ở cơ sở... được đánh giá là công cụ tuyên truyền có hiệu quả của ngành Tư pháp thời gian qua.

Nhiều năm qua, Sở Tư pháp cũng đã chỉ đạo và tổ chức thành công nhiều cuộc thi tìm hiểu pháp luật như: Thi tìm hiểu Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Luật phòng, chống ma túy, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Giao thông đường bộ, Pháp lệnh Dân số; tổ chức thi Hòa giải viên giỏi, cán bộ Tư pháp- Hộ tịch giỏi 2 năm một lần...Các cuộc thi tìm hiểu pháp luật đã góp phần nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân các dân tộc trong tỉnh.

Nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức kinh tế tiếp cận với pháp luật, Sở đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng Đề án hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Thành lập Ban chỉ đạo và tổ chức nhiều đợt tuyên truyền pháp luật cho các doanh nghiệp đóng trên địa bàn.

Để thực hiện tốt công tác phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật, hàng năm  Sở đã ký kết chương trình phổ biến, tuyên truyền pháp luật với các ngành thành viên trong Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh nhằm gắn trách nhiệm của các cơ quan trong công tác này. Các nội dung trong chương trình đã được ký kết đều được thực hiện đúng tiến độ, chất lượng cao.

Nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở khu vực nông thôn, miền núi trong tỉnh, năm 2005-2006 Sở đã hoàn thành đề tài khoa học cấp tỉnh “ Những giải pháp nhằm tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đối với khu vực nông thôn miền núi tỉnh Bắc Giang”. Đề tài được nghiệm thu và triển khai áp dụng đã tạo điều kiện cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở khu vực nông thôn miền núi,  nơi trình độ dân trí cũng như điều kiện kinh tế rất khó khăn được triển khai tốt, hiệu quả hơn.

Có thể nói, các thế hệ cán bộ, công chức được phân công trực tiếp làm công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật của Sở Tư pháp đã không ngừng tự học hỏi, rèn luyện, khắc phục khó khăn, sáng tạo nhiều hình thức và biện pháp thích hợp để chuyển tải pháp luật vào cuộc sống, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao ý thức pháp luật của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Nói cách khác, đã có hàng trăm dự luật, pháp lệnh, văn bản QPPL được ban hành, sửa đổi, bổ sung...hàng trăm đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng của đất nước, của tỉnh đều gắn với bộ phận phổ biến, giáo dục pháp luật trước đây và Phòng Phổ biến giáo dục pháp luật - Sở Tư pháp hiện nay.

 Công tác quản lý nhà nước về bổ trợ tư pháp

 Hoạt động bổ trợ tư pháp giữ vai trò không thể thiếu trong hoạt động bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý,  góp phần tích cực vào việc làm rõ sự thực khách quan của các vụ án. Đó là hoạt động của các tổ chức giám định tư pháp, tổ chức luật sư, công chứng, giao dịch bảo đảm…Kể từ năm 1993 đến nay, các tổ chức giám định tư pháp luôn luôn được kiện toàn, tổ chức luật sư ngày càng lớn mạnh. Thực hiện Nghị định số 117-HĐBT ngày 21/7/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về Giám định tư pháp, Sở Tư pháp đã phối hợp  với các cơ quan hữu quan chuẩn bị nhân sự, cơ sở pháp lý trình Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập 06 tổ chức giám định tư pháp. Tại thời điểm đó, các tổ chức giám định tư pháp Hà Bắc (nay là Bắc Giang) được ra đời sớm nhất trong cả nước với hơn 20 Giám định viên có trình độ chuyên môn vững, tinh thần trách nhiệm cao và có kinh nghiệm lâu năm trong nghề. Đi đôi với việc ổn định tổ chức, Sở Tư pháp thường xuyên quan tâm  đến việc tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức pháp lý cho đội ngũ Giám định viên cũng như tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phương tiện kỹ thật để các tổ chức giám định tư pháp hoạt động, phục vụ kịp thời yêu cầu tố tụng. Các kết luận của các tổ chức giám định tư pháp là chứng cứ khoa học, khách quan để các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, góp phần đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, hoàn thành nhiệm vụ chính trị, bảo vệ an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương.  Một số tổ chức giám định tư pháp nhiều năm liền được các ngành, các cấp có thẩm quyền ghi nhận và khen thưởng xứng đáng như: tổ chức giám định Kỹ thật hình sự, Giám định pháp y…

Đoàn Luật sư tỉnh Hà Bắc (nay là Bắc Giang) được thành lập năm 1989 với 10 luật sư chủ yếu là các cán bộ công tác lâu năm trong ngành bảo vệ pháp luật đã nghỉ chế độ, tại thời điểm đó, rất ít người có trình độ cử nhân Luật. Đến nay, đội ngũ luật sư của Đoàn Luật sư lớn mạnh không ngừng cả về số lượng lẫn chất lượng. Cơ bản các luật sư được đào tạo chính quy. 

 Hàng năm, với 12 tổ chức hành nghề luật sư đã tham gia bào chữa và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho gần 500 vụ án hình sự và dân sự. Hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư đã góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ nền công lý, giúp cho Tòa án nhân dân trong tỉnh xét xử các vụ án hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, xét xử các vụ án dân sự, kinh tế, hành chính, lao động công bằng, minh bạch đảm bảo lợi ích  của các bên tham gia tố tụng.

Công tác công chứng, dịch vụ bán đấu giá tài sản là những dịch vụ công do ngành Tư pháp quản lý. Trước đây, hoạt động của Phòng công chứng số 1 và Phòng công chứng số 2 rất sôi nổi. Hàng năm, 02 Phòng Công chứng thực hiện gần 60 ngàn việc. Các việc do Phòng công chứng thực hiện đều đảm bảo chất lượng tốt, 

 đúng quy định của pháp luật tạo an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, hành chính của công dân, cơ quan, tổ chức. Từ năm 2007 Luật Công chứng có hiệu lực, trong đó quy định chủ trương xã hội hóa dịch vụ công chứng, Sở đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng Đề án phát triển tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn nhằm khắc phục tình trạng “quá tải” của các Phòng công chứng nhà nước. Đến nay,  trên toàn tỉnh đã có 11 tổ chức hành nghề công chứng, gồm: 02 Phòng Công chứng, 09 Văn phòng công chứng với 22 Công chứng viên.  Nhìn chung, hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn dần từng bước đi vào nề nếp, góp phần tích cực vào việc bảo vệ quyền, lợi ích hợi pháp của tổ chức, công dân.

Hoạt động bán đấu giá tài sản là một trong những mặt công tác mới của ngành. Năm 2003, Sở Tư pháp đã tham mưu 

 cho Ủy ban  nhân dân tỉnh xây dựng Đề án thành lập Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản của tỉnh. Khi mới thành lập, Trung tâm chỉ có 03 cán bộ gồm Giám đốc, 01 Phó giám đốc, 01 Kế toán. Đến nay, Trung tâm đã có 10 cán bộ, trong đó có Giám đốc, 2 Phó giám đốc, 7 viên chức và người lao động, số Đấu giá viên của Trung tâm là 4 người. Chức năng của Trung tâm chủ yếu là bán đấu giá tài sản nhà  nước, tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản thế chấp vay vốn ngân hàng, tài sản đảm bảo thi hành án. Chỉ tính riêng 2 năm 2011 và 2012, Trung tâm đã ký kết và bán đấu giá thành 74 hợp đồng, tổng giá trị tài sản bán được là 169.411.281.510 đồng, vượt so với giá khởi điểm 19.476.528.760 đồng. Để đưa hoạt động bán đấu giá trên địa bàn tỉnh đi vào nề nếp, Sở đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quy chế bán  đấu giá tài sản và Quy chế đấu giá quyền sử dụng đấu trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Quy chế được ban hành làm cơ sở pháp lý cho việc quản lý nhà nước về hoạt động bán đấu giá tài sản được chặt chẽ và đi vào nề nếp hơn.

Công tác hành chính tư pháp

Đây là công tác liên quan trực tiếp đến các yêu cầu của tổ chức, công dân. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, Sở đã thường xuyên quan tâm đến việc bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ Tư pháp - Hộ tịch ở cơ sở để họ không  ngừng nâng cao kỹ năng tác nghiệp thực hiện đúng quy định của pháp luật về đăng ký, quản lý hộ tịch, chứng thực. Hàng năm ở cơ sở đã tiến hành đăng ký kết hôn cho khoảng 16.000 trường hợp, đăng ký khai sinh cho 39.000 trường hợp, đăng ký khai tử cho 7500 trường hợp. Đối với những vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình như: đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, cấp Phiếu lý lịch tư pháp…Sở  đã chủ động phối hợp với các ngành có liên quan kịp thời giải quyết yêu cầu của tổ chức, công dân. Những vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở cơ bản làm hài lòng tổ chức, công dân, thời gian giải quyết công việc nhanh gọn, đảm bảo yêu cầu cải cách thủ tục hành chính.

Công tác Trợ giúp pháp lý

Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Giang được thành lập năm 1999. Khi mới thành lập, Trung tâm chỉ có 04 cán bộ gồm: Giám đốc, 01 Phó giám đốc và 2 cán bộ.  Sau 14 năm, tổ chức và hoạt động của Trung tâm lớn mạnh không ngừng. Tổng biên chế được giao hiện nay là 26 công chức, viên chức, gồm: Giám đốc, 01 Phó giám đốc và các viên chức. Cơ cấu tổ chức của Trung tâm gồm có 04 phòng, 03 chi nhánh, 03 Trợ giúp viên. Ngoài ra, Trung tâm còn có  53 cộng tác viên ở tỉnh và 10 huyện, thành phố, 106 câu lạc bộ trợ giúp pháp lý với gần 1000 thành viên được thành lập  ở các xã, phường, thị trấn. Hoạt động chính của Trung tâm là tư vấn pháp lý; đại diện bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp thông qua tố tụng; lồng ghép hoạt động tư vấn với tuyên truyền pháp luật…Từ khi thành lập đến nay, Trung tâm đã tổ chức trợ giúp pháp lý lưu động 746 đợt ở xã, phường, thị trấn cho hàng ngàn đối tượng; trợ giúp pháp lý lồng ghép với tuyên truyền pháp luật 350 đợt đến các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, những xã đặc biệt khó khoăn thuộc đối tượng chính sách xóa đói giảm nghèo của Nhà nước; tiến hành  tư vấn, trợ giúp tại trụ sở và trong các đợt lưu động cho hơn 10 ngàn vụ việc, trong đó thực hiện đại diện, bào chữa 849 vụ việc.

Hoạt động trợ giúp pháp lý trong những năm qua đã góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, tinh thần đền ơn đáp nghĩa mà Đảng và Nhà nước ta phát động.

Công tác hòa giải

Công tác hòa giải  có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc giải quyết mâu thuẫn nhỏ có tính chất nội bộ trong đời sống nhân dân, phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường đoàn kết, hạn chế điểm nóng, giảm khiếu kiện, ổn định tình hình an ninh nông thôn. Vì vậy, trong nhiều năm qua, Sở Tư pháp đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng, củng cố các tổ hòa giải, bồi dưỡng kiến thức pháp lý, nghiệp vụ cho đội ngũ hòa giải viên ở tỉnh nhà.  Năm 2001, Sở Tư pháp đã tham mưu cho Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số 11 về tăng cường hoạt động hòa giải ở tỉnh Bắc Giang. Đây là một chủ trương kịp thời, nhằm tăng cường hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở. Đến nay, toàn tỉnh có 2.554 tổ hòa giải với trên 15.000 hòa giải viên. Bình quân mỗi năm các tổ hòa giải đã giải quyết được hàng vạn vụ việc tranh chấp nhỏ, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, kết quả hòa giải thành đạt từ 83- 87%, góp phần xây dựng tình làng nghĩa xóm, củng cố khối đại đoàn kết  trong cộng đồng dân cư.

 Công tác Thanh tra ngành

Công tác thanh tra ngành được Sở Tư pháp thường xuyên quan tâm. Thanh tra Sở được giao trực tiếp tiếp dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Hàng năm, Thanh tra Sở đều xây dựng kế hoạch thanh tra công tác tư pháp, hoạt động hành nghề của các Văn phòng Luật sư, các tổ chức hành nghề công chứng. Qua các đợt thanh tra,  nhằm phát hiện những vi phạm trong hoạt động tư pháp của các cá nhân, tổ chức để kịp thời uốn nắn, đồng thời cũng tăng cường nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho các tổ chức hành nghề trong lĩnh vực tư pháp.

Việc giải quyết khiếu nại tố cáo trong lĩnh vực tư pháp được Sở hết sức coi trọng. Vào ngày 15 hàng tháng, lãnh đạo Sở cùng bộ phận thanh tra tổ chức tiếp dân. Vì vậy, trong những năm qua, đơn thư khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở đã được giải quyết kịp thời. Ngoài ra, lãnh đạo Sở còn thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo tại các đơn vị thuộc Sở. Do vậy, tình trạng đơn thư kéo dài, đặc biệt ở khối Tòa án nhân dân, Thi hành án dân sự trước đây bước đầu đã được khắc phục.

Có thể nói, công tác thanh tra, kiểm tra của ngành đã góp phần củng cố tổ chức, xây dựng ngành Tư pháp ngày càng trong sạch, vững mạnh, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Công tác Văn phòng

Quá trình xây dựng và phát triển  của Sở Tư pháp gắn liền với công tác Văn phòng. 

Thực hiện tốt việc tham mưu cho lãnh đạo cơ quan xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện các chương trình, nhiệm vụ kế hoạch công tác của ngành theo từng tuần, tháng, quý và cả năm; các chương trình, kế hoạch công tác đều bám sát và cụ thể hoá sự chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh và nhiệm vụ chung của toàn ngành, đảm bảo ban hành, triển khai đúng nội dung, thời gian theo quy định; thường xuyên đổi mới nội dung,phương pháp làm việc trên các mặt công tác, đảm bảo khoa học và có hiệu quả; tổ chức theo dõi sát sao, đôn đốc việc triển khai thực hiện chương trình công tác của các đơn vị trong ngành; công tác chuẩn bị nội dung và tổ chức các hội nghị của Sở, các hội nghị của Uỷ ban nhân dân tỉnh có liên quan tới lĩnh vực công tác của ngành, các nội dung công tác tư pháp trình phiên họp Uỷ ban nhân dân tỉnh đều được chuẩn bị chu đáo,  phục vụ tốt cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo Sở và công tác chỉ đạo của tỉnh đối với công tác tư pháp; thường xuyên tham mưu cho lãnh đạo Sở quan tâm củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ từ tỉnh tới cơ sở nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; tăng cường cử cán bộ tham gia các lớp đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ, các lớp bồi dưỡng do Bộ Tư pháp và Uỷ ban nhân dân tỉnh tổ chức. Hàng năm, tích cực tham mưu thực hiện phát động phong trào thi đua sâu rộng trong toàn ngành, tạo khí thế thi đua sôi  nổi, động viên, khuyến khích đông đảo các tập thể, cá nhân trong ngành tham gia, hướng dẫn các đơn vị thực hiện đăng ký giao ước thi đua, thực hiện tốt việc sơ kết, tổng kết đúng quy định và bình xét khen thưởng đảm bảo khách quan, công bằng, đúng người, đúng việc, đúng thành tích...qua đó tạo động lực cho cán bộ, công chức, viên chức khắc phục mọi khó khăn, tích cực phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác chuyên môn và  nhiệm vụ chính trị của ngành ở địa phương.

Các hoạt động xã hội khác

Hoạt động của các tổ chức đoàn thể trong cơ quan Sở Tư pháp luôn được lãnh đạo Sở, Chi ủy quan tâm chỉ đạo và ủng hộ. Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ, các phong trào thi đua ngắn hạn, dài hạn thường xuyên được phát động với 100% cán bộ, công chức, viên chức nhiệt tình tham gia. Phong trào ủng hộ đồng bào bị thiên tai, các hoạt động từ thiện,  xây dựng quỹ xóa đói giảm nghèo, phát triển đường nông thôn, vì trẻ  tật nguyền... luôn đạt kết quả cao, với số tiền ủng hộ mỗi đợt hàng triệu đồng. Nhiều đợt quyên góp ủng hộ đã được Sở Tư Pháp tổ chức trước khi có kế hoạch chỉ đạo của các cấp, các ngành. Cùng với các hoạt động nêu trên, Sở Tư Pháp còn trực tiếp theo dõi, giúp đỡ 01 xã đặc biệt khó khăn theo sự phân công của Ủy ban nhân dân tỉnh bằng các hoạt động thiết thực, cụ thể như: Trợ giúp pháp lý, cung cấp biểu mẫu hộ tịch, sách báo pháp luật miễn phí, đầu tư tổ chức Câu lạc bộ  phòng chống tội phạm.

Phong trào văn hoá- thể thao cũng được quan tâm và từng bước có chuyển biến mạnh mẽ. Hàng năm đều tổ chức giải cầu lông nội bộ và toàn ngành. Cán bộ, công chức, viên chức Sở Tư pháp còn tích cực tham gia các cuộc thi hội diễn văn nghệ, các giải thể thao do các cấp, các ngành tổ chức. Cơ quan Sở Tư pháp nhiều năm liền được công nhận là cơ quan văn hóa.

Ghi nhận những thành tích mà ngành Tư pháp Bắc Giang đã đạt được, nhiều năm Sở Tư pháp và cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh đã được Bộ Tư Pháp tặng cờ thi đua xuất sắc. Hàng năm, nhiều tập thể, cá nhân trong ngành được Chính Phủ, Bộ Tư Pháp, Ủy ban nhân dân tỉnh tặng Bằng khen và các phần thưởng cao quý khác. Các tổ chức Đảng, Công đoàn, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Sở Tư pháp nhiều năm đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh và vinh dự cho ngành Tư pháp Bắc Giang, ngày 25/9/2007, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký Quyết định số 1074/QĐ-CTN về việc tặng thưởng Huân chương lao động hạng Ba và ngày 13/9/2012 Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký Quyết định số 1408/QĐ-CTN về việc tặng thưởng Huân chương lao động hạng Nhì cho Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang đã có thành tích xuất sắc trong  công tác, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, phục vụ công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế thế giới.

Là một ngành hoạt động trong lĩnh vực pháp luật, Sở Tư pháp luôn luôn xác định trách nhiệm hết sức nặng nề với Cấp ủy, chính quyền và nhân dân trong tỉnh đối với việc xây dựng cơ chế chính sách, cung cấp dịch vụ pháp lý và thực hiện quản lý nhà nước các hoạt động tư pháp khác ở địa phương.

Bước sang thời kỳ mới nhiệm vụ của ngành Tư pháp sẽ tăng cường hơn. Ngoài các nhiệm vụ đã được giao nhiều nhiệm vụ mới được triển khai mạnh mẽ như: Theo dõi thi hành pháp luật, quản lý các quyết định hành chính theo tinh thần Luật xử lý vi phạm hành chính, bồi thường nhà nước, hoạt động của các tổ chức pháp chế …Đó là niềm vinh dự song cũng hết sức nặng nề mà Đảng và Nhà nước tin tưởng giao cho ngành Tư pháp.

Để hoàn tốt nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước tin tưởng giao phó, ngành Tư pháp Bắc Giang luôn luôn xác định:

Một là, trong mọi hoạt động của ngành phải luôn bám sát chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; gắn việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn với các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã  hội của địa phương.

Hai là, luôn tranh thủ sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền mà trực tiếp là Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, sự chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ của Bộ Tư Pháp. Chủ động phối kết hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội từ tỉnh đến cơ sở, tạo mối quan hệ mật thiết gắn bó trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ của ngành.

Ba là, thường xuyên  làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đặc biệt là thực hiện nghiêm túc kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghi quyết Trung ương 4 (Khóa XI). Quan tâm đến công tác xây dựng cơ quan, xây dựng ngành trong sạch vững mạnh. Chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ công chức, tích cực cải tiến lề lối làm việc. Thực hiện tốt quy chế dân chủ trong cơ quan, xây dựng khối đoàn kết nội bộ Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng, tạo sức mạnh tổng hợp  để thúc đẩy việc hoàn thành nhiệm vụ được phân công.

Bốn là, thực hiện tốt phương châm hướng công tác Tư  pháp về cơ sở, mọi hoạt động của ngành phải được triển khai một cách đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở. Có như vậy mới đưa được khẩu hiệu "Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật" vào cuộc sống.

Năm là, đi đôi với xây dựng, củng cố tổ chức phải gắn liền với từng bước xây dựng cơ sở vật chất, tăng cường phương tiện làm việc, kết hợp chăm lo đời sống cho cán bộ công chức; xây dựng tác phong làm việc công nghiệp hiện đại,  đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng hiện nay, trước hết là góp phần thực hiện thành công công cuộc cải cách hành chính và cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.

Phát huy truyền thống 30 năm qua, tập thể công chức viên chức và người lao động ngành Tư pháp Bắc Giang đang tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng toàn diện, góp phần tích cực trong công tác tham mưu, đề xuất cho Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban 

 nhân dân tỉnh chỉ đạo, quản lý tốt công tác tư pháp tại địa phương trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đoàn kết chung lòng, các thế hệ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động ngành Tư pháp Bắc Giang tiếp tục tô đẹp trang sử truyền thống  tư pháp huy hoàng, rực rỡ hơn./.